Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước - sau tiến hành trong 3 tháng được thực hiện trên 89 công nhân tại một công ty Dệt may thuộc tỉnh Hải Dương nhằm đánh giá hiệu quả can thiệp bữa ăn ca công nhân bằng việc sử dụng thực đơn mẫu đáp ứng theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (NCDDKN) và mức độ lao động thể lực thực tế. Kết quả: Khẩu phần ăn sau can thiệp cân đối hơn trước can thiệp đáp ứng NCDDKN với tỷ lệ các chất sinh năng lượng P:L:G là 19:22:59 tương đương với mức năng lượng 973,4 Kcal, và hàm lượng vitamin cũng cân đối hơn đặc biệt là vitamin B1, B2, PP tính trên 1000kcal theo NCDDKN tương ứng 0,4; 0,55; 6,6 mg/1000 kcal. Sau can thiệp cân nặng và vòng eo trung bình của các nhóm đối tượng đều tăng lên. Cân nặng trung bình của đối tượng sau can thiệp là 50,98kg, tăng hơn so với cân nặng trung bình trước can thiệp 0,63 kg (p<0,01). Sự thay đổi chỉ số khối cơ thể (BMI) với BMI sau can thiệp cao hơn BMI trước can thiệp là 0,25 kg/m2 (p <0,01). Tỷ lệ đối tượng thiếu năng lượng trường diễn và thừa cân béo phì giảm rõ rệt sau can thiệp với tỷ lệ trước – sau can thiệp lần lượt là 9,9% và 6,6%; 7,4% và 6,3% (p<0,05). Hàm lượng hemoglobin trung bình trước can thiệp là 128,7 ± 12,8 g/L. Sau can thiệp, hàm lượng hemoglobin là 131,6 ± 12,1 g/L, tăng 2,88 ± 3,2 g/L so với trước can thiệp (p<0,01). Sau can thiệp, tỷ lệ công nhân bị thiếu máu là 9,8%, giảm rõ rệt so với trước can thiệp là 19,7% (p<0,05). Kết luận: Tình trạng dinh dưỡng của CN sau can thiệp đã có sự cải thiện hơn so với trước can thiệp với bữa ăn ca đảm bảo đủ và cân đối về năng lượng cũng như thành phần các chất dinh dưỡng theo NCDDKN.
Average, the weight of the workers after the intervention was 50,98kg, an increase over the average weight before intervention 0,63 kg (p <0,01). The change in BMI after intervention was higher than BMI before intervention is 0,25 kg/m2 (p <0,01). After the intervention, the rate of workers with malnutrition and obesity decreased significantly compared to before the intervention with the rate before - after intervention respectively 9,9% and 6,6%; 7,4% and 6.3% (p <0,05). The results showed that the average hemoglobin concentration before intervention was 128,7 ± 12,8 g/L. After the intervention, the hemoglobin content was 131,6 ± 12,1 g/L, an increase of 2,88 ± 3,2 g/L compared to before the intervention (p <0,01). The average prevalence of anemic workers decreased by 9,9%, particularly in female workers.
Conclusion: Worker's nutrition status after intervention is improved with worker's shiftmeal ensure adequate and balanced energy as well as the composition of nutrients according to RDA.