Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 370 trẻ dưới 24 tháng tuổi và các bà mẹ của trẻ ở huyện Tam Nông, Phú Thọ nhằm mục tiêu mô tả thực trạng dinh dưỡng và đánh giá thực hành nuôi trẻ của bà mẹ theo các chỉ số IYCF – 2010 (Infant and Young Child Feeding). Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ trẻ dưới 24 tháng tuổi suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi, gày còm lần lượt là 7,8%; 19,7% và 2,2%; tỷ lệ thừa cân béo phì là 2,7%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở các thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm không có sự khác biệt về giới tính nhưng có xu hướng tăng dần theo nhóm tuổi. Thực hành nuôi trẻ của bà mẹ theo các chỉ số IYCF – 2010: 94,3% trẻ đã và đang được bú mẹ; 46,7% trẻ được bú ngay trong vòng 1h đầu sau sinh, 27,8% trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ hoàn toàn; tại thời điểm 1 tuổi có 60,6% trẻ tiếp tục còn được bú sữa mẹ, tại thời điểm 2 tuổi có 11,1% trẻ tiếp tục còn được bú sữa mẹ; 65,2% trẻ được cho ăn bổ sung đúng thời điểm; 70,6% trẻ có khẩu phần đa dạng tối thiểu; 54,8% trẻ có khẩu phần đa dạng tối thiểu cộng dầu mỡ, tỷ lệ trẻ đạt tần suất bữa tối thiểu là 97,6% và có 69,4% trẻ có chế độ ăn chấp nhận tối thiểu.
A cross sectional study was conducted to assess the nutritional status of children under 24 months old and maternal child feeding practices using WHO indicators in Tam Nong district, Phu Tho province. A total of 370 children under 24 months and their mothers were recruited for the study. The proportion of malnourished children suffering underweight, stunting and wasting was 7.8%, 19.7%, 2.2%, respectively, while the rate of overweight and obesity was 2.7%. The rate of malnutrition in terms of underweight, stunting and wast- ing had no gender differences but tended to increase with age. Maternal child feeding prac- tices based on IYCF-2010: Children ever breastfed 94.3%, early initiation of breastfeeding 46.7%; exclusive breastfeeding under 6 months 27.8%, continued breastfeeding at 1 year 60.6%, continued breastfeeding at 2 years 11.1%, introduction of solid, semi-solid or soft foods 65.2%, minimum dietary diversity 70.6%, minimum dietary diversity plus fats 54.8%, minimum meal frequency 97.6%, minimum acceptable diet 69.4%.