Nghiên cứu sử dụng số liệu thu được từ cuộc điều tra về khẩu phần ăn bổ sung (KPABS) của 73 trẻ 13-18 tháng tuổi tại Hà Nội. KPABS trong 24 giờ của trẻ được cân đong và tính toán hàm lượng sắt, kẽm theo Bảng thành phần thực phẩm, mẫu đúp đem phân tích hàm lượng sắt, kẽm bằng hệ thống máy quang phổ hấp thụ nguyên tử.
Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa ước lượng sắt, kẽm tính theo bảng thành phần thực phẩm Việt Nam (BTP) và theo phương pháp hóa học (PPHH).
Kết quả: Kết quả phân tích giá trị tuyệt đối cho thấy ước lượng trung bình của sắt theo BTP thấp hơn so với PPHH (8,41mg so với 9,12mg và bằng 93% giá trị đo theo PPHH) trong khi ước lượng trung bình của kẽm theo BTP lại cao hơn so với PPHH (6,65mg so với 5,5mg và bằng 125% giá trị đo theo PPHH). Tuy nhiên kiểm định so sánh theo từng cặp cho thấy chỉ có ước lượng trung bình của kẽm theo PPHH thấp hơn BTP một cách có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Hệ số tương quan Pearson trong phân tích có tham số của ước lượng sắt giữa BTP và PPHH cao hơn ước lượng của kẽm (0,66 so với 0,60). Phương trình hồi quy tuyến tính kết quả đo sắt giữa PPHH và BTP với đường giới hạn khoảng tin cậy 95% là Y=2,93+0,74X (95%CI: 0,54;0,94; P=0,00); với kết quả đo kẽm phương trình này là Y=1,67+0,57X (95%CI: 0,39;0,76; P=0,00).
This study used the data collected from the survey on complementary dietary intakes of children aged 13-18 months in Hanoi. The complementary food intakes in 24 hours of 73 children were measured by weighing. The same samples were collected for laboratory analysis to determine the iron and zinc content using the Atomic Absorption Spectrophometry system (AAS).
Objective: To determine the correlation between the measurement methods of using Vietnamese food com- position table (FCT) and chemical analysis regarding iron and zinc estimation. Results: The analy- sis showed that the average estimate of iron content by FCT was lower than that by chemical method (8.41 mg compared with 9.12 mg; approximately 93% of referential value) whereas the average estimate of zinc content by FCT was higher than that by chemical method (6.65 mg com- pared with 5.5 mg; approximately 125% of referential value). However, the paired t-test compar- ison indicated only average estimate of zinc content by FCT was significantly higher than that by chemical method (p<0.05). The Pearson correlation coefficient of iron estimate between FCT and chemical method was higher than that of zinc (0.66 in comparison with 0.60). The linear regression equation between chemical and FCT methods of measurement for iron estimation with 95% fitted lines was Y=2.93 +0.74X (95%CI: 0.54; 0.94; P<0,001); for zinc measurement, the equation was Y= 1.67+0.57X (95%CI: 0.39; 0.76; P<0,001).