Nghiên cứu mô tả sự thay đổi tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và thiếu máu khi có thai ở 165 phụ nữ nông thôn được thực hiện từ năm 2011-2015 tại huyện Cẩm Khê, Phú Thọ.
Phương pháp: Phương pháp cân đo nhân trắc và xét nghiệm phân tích các chỉ số sinh hóa liên quan đến thiếu máu tại ba thời điểm: ban đầu (trước khi có thai), thai 16 và thai 32 tuần.
Kết luận: Ở phụ nữ trước khi có thai, tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (CED): 27,1%, cân nặng, chiều cao và chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình lần lượt là 45,9 ± 4,8 kg, 153,0 ± 5,3 cm và 19,6 ± 1,6. Mức tăng cân sau 16 tuần và 32 tuần có thai là 1,4±3,7 kg và 7,6 ± 3,7 kg (p<0,001). Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) cấp tính (theo vòng cánh tay MUAC) khi chưa có thai là 3,0%, thai 16 tuần là 7,8% và thai 32 tuần là 9,0%. Nồng độ hemoglobin (Hb) trung bình khi chưa có thai, khi thai 16 và 32 tuần lần lượt là 12,7 ± 1,2, 11,6 ± 1,1 và 11,7 ± 1,2 g/dL (p<0,001). Tỷ lệ thiếu máu khi chưa có thai là 26,0%, cao hơn so với tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai 16 tuần (24,0%) và 32 tuần (23,3%) (p<0,001). Nồng độ folate huyết thanh có xu hướng tăng lên trong khi nồng độ vitamin B12 huyết thanh lại giảm đi khi có thai so với khi chưa có thai. Thiếu folate và vitamin B12 không phải là vấn đề với phụ nữ ở nông thôn Việt Nam.
The study described the change in nutritional and anemia status during pregnancy in 165 women rural women during 2011-2015 in Cam Khe district, Phu Tho province.
Methods: Using anthropometric measurements and laboratory analysis of biochemical indicators related to anemia at 3 time points: the begining (pre-pregnancy), 16 and 32 weeks of pregnancy.
Results: In women before pregnancy, the rate of CED: 27.1%, weight, height and BMI in average were 45.9 ± 4,8 kg, 153.0 ± 5,3 cm and 19,6 ± 1.6, respectively. Weight gain after 16 weeks and 32 weeks of pregnancy were 1.4 ± 3,7 kg and 7.6 ± 3,7 kg (p <0.001). The rate of acute malnutrition (according MUAC) at 3 time points were 3.0%, 7.9% and 9.0%, respectively. The average hemoglobin levels at 3 time points were 12.7 ± 1.2, 11.6 ± 1.1 and 11.7 ± 1.2 g/dL, respectively (p <0.001). The rate of anemia before pregnancy was about 26.0%, higher than the rate of anemia among pregnant women at 16 weeks (24,0%) and at 32 weeks (23.3%) (p <0.001). Serum folate concentrations tended to increase while serum vitamin B12 levels decreased during pregnancy than when not pregnant. Lack of folate and vitamin B12 was not a problem in Vietnam women.