CỔNG THÔNG TIN DINH DƯỠNG QUỐC GIA

VIETNAM NUTRITIONAL PORTAL

Hệ lụy sức khỏe khi tiêu thụ sữa “đồng phục”
30/03/2026 00:40:09
200 lượt xem
chia sẻ

Các đối tượng có nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt như trẻ nhỏ, phụ nữ có thai và người mắc bệnh mạn tính, ngoài việc duy trì một lối sống lành mạnh, chế độ ăn hợp lý, cân bằng, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của gia đình và tình trạng sức khỏe của cá nhân thì việc sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng cũng là một giải pháp nhằm đảm bảo tình trạng dinh dưỡng tốt.

Các loại sữa dạng bột hoặc nước được sản xuất theo công thức nhất định trên thị trường hiện nay là một trong những loại sản phẩm dinh dưỡng phổ biến, được thiết kế để đáp ứng cho những nhóm đối tượng có nhu cầu dinh dưỡng đặc thù trên. Mỗi nhóm người có nhu cầu dinh dưỡng, sinh lý và nguy cơ sức khỏe riêng biệt. Việc “mặc đồng phục cho sữa” - sử dụng chung một công thức cho các loại sữa khác nhau, có thể gây ra mất cân bằng dinh dưỡng, gia tăng gánh nặng chuyển hóa, hoặc thậm chí làm trầm trọng thêm bệnh lý nền ở những người mắc bệnh mạn tính. Bài viết này phân tích các hậu quả tiềm tàng từ góc độ sinh lý và lâm sàng, đồng thời đề xuất cách tiếp cận phù hợp nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả dinh dưỡng cho từng nhóm người dùng.

Hình ảnh

Ở trẻ em

Trẻ em, đặc biệt là trong 1.000 ngày đầu đời (từ khi bắt đầu hình thành trong bào thai đến khi tròn 2 tuổi), có nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt cao phục vụ cho quá trình tăng trưởng nhanh chóng về thể chất và phát triển trí não. Tuy nhiên, hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện, enzyme lactase – cần thiết để tiêu hóa đường lactose trong sữa – còn thấp, khiến trẻ dễ gặp tình trạng bất dung nạp lactose. Ngoài ra, gan và thận của trẻ cũng chưa đủ khả năng chuyển hóa và bài tiết những thành phần như natri, ure hay đạm dư thừa, dẫn đến nguy cơ rối loạn điện giải hoặc tổn thương thận nếu sử dụng sữa công thức không phù hợp. Trẻ nhỏ cũng rất dễ thiếu vi chất dinh dưỡng như sắt, kẽm, vitamin A nếu sữa không được tăng cường các vi chất này.

Về mặt lâm sàng, trẻ có thể bị thiếu máu, còi xương, chậm phát triển trí tuệ hoặc ngược lại là tăng cân quá mức, thừa cân nếu sữa chứa quá nhiều năng lượng và protein. Theo thống kê, tại các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ thiếu vi chất vẫn cao, trong khi tỷ lệ béo phì ở trẻ em thành thị đang gia tăng nhanh chóng do sử dụng sữa công thức sai cách hoặc quá mức. Ngược lại, nếu sữa không cung cấp đủ năng lượng, protein và vi chất thiết yếu như sắt, kẽm, DHA, trẻ có nguy cơ cao bị suy dinh dưỡng, thấp còi, chậm phát triển trí tuệ.

Hình ảnh

Ở phụ nữ có thai

Trong thai kỳ, ở từng giai đoạn mang thai khác nhau, nhu cầu dinh dưỡng của phụ nữ có thai cũng khác nhau. Ở 3 tháng đầu thai kỳ, thai nhi còn nhỏ nhưng là giai đoạn hình thành các cơ quan quan trọng, do đó người mẹ cần đặc biệt chú ý đến việc bổ sung acid folic (400–600 mcg/ngày) để phòng ngừa dị tật ống thần kinh, đồng thời đảm bảo lượng sắt (~30 mg/ngày), iod (220 mcg/ngày) và các vitamin nhóm B để hỗ trợ phát triển hệ thần kinh. Do nhiều phụ nữ giai đoạn này bị nghén, chán ăn, nên dù nhu cầu năng lượng chưa tăng nhiều, nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng lại rất cao, đặc biệt với sắt, kẽm, vitamin B6 và B12. Tuy nhiên, nếu phụ nữ có thai phụ thuộc vào sữa như là nguồn cung cấp dinh dưỡng bổ sung trong thai kỳ, việc tiêu thụ loại sữa công thức không phù hợp – ví dụ sữa không đủ sắt và acid folic có thể làm tăng nguy cơ thiếu máu, dị tật ống thần kinh.

Ở 3 tháng giữa thai kỳ, nhu cầu protein cũng tăng lên để đáp ứng sự phát triển mô thai và nhau thai. Đây là thời điểm cần tăng cường canxi (1000–1200 mg/ngày) vitamin D (600–800 IU/ngày) để hỗ trợ quá trình tạo xương và răng cho thai nhi. Ngoài ra, DHA cũng cần được bổ sung (200–300 mg/ngày) để hỗ trợ phát triển não bộ và thị lực cho thai nhi. Việc duy trì chế độ ăn giàu chất xơ cũng rất quan trọng để giảm táo bón – triệu chứng thường gặp do tác động của progesterone và áp lực của tử cung lên ruột. Giai đoạn này nếu sữa thiếu vi chất hoặc chứa nhiều đường, chất béo bão hòa – có thể dẫn đến tăng cân quá mức, tăng nguy cơ tiểu đường thai kỳ. Các rối loạn này không chỉ ảnh hưởng đến bà mẹ mà còn gây hậu quả nghiêm trọng cho thai nhi và trẻ khi được sinh ra như sinh non, tiền sản giật hoặc chậm phát triển thai, suy dinh dưỡng bào thai

3 tháng cuối thai kỳ, thai nhi tăng trưởng nhanh nhất về khối lượng và hoàn thiện hệ thần kinh. Ở giai đoạn này, nhu cầu năng lượng tăng lên, trong khi nhu cầu protein và sắt vẫn ở mức cao để hỗ trợ phát triển khối lượng cơ thể thai nhi và ngăn ngừa thiếu máu cho mẹ. Magie và kẽm cũng cần được đảm bảo đầy đủ nhằm phòng ngừa sinh non và tăng cường miễn dịch. Một số vi chất chống oxy hóa như vitamin C, E và beta-caroten có vai trò trong giảm nguy cơ tiền sản giật và tổn thương tế bào. Ở giai đoạn này, mẹ bầu cũng cần theo dõi lượng muối (natri) ăn vào, nhất là nếu có dấu hiệu tăng huyết áp hoặc phù nề trong thai kỳ. Thời kỳ này, nếu bà mẹ sử dụng sữa sai công thức, không đảm bảo về năng lượng và các vi chất có thể gia tăng nguy cơ dẫn tới tiền sản giật, sinh non, sinh nhẹ cân. Việc duy trì chế độ ăn cân bằng, hợp lý trong thai kỳ, bao gồm sử dụng sữa công thức đúng cách đặc biệt quan trọng, nhất là, tại Việt Nam, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ có thai hiện vẫn còn phổ biến, trong khi các vấn đề liên quan đến thừa cân thai kỳ và tiểu đường thai kỳ đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở khu vực đô thị.

Hình ảnh

Ở người mắc các bệnh mạn tính

Những người mắc bệnh mạn tính thường kèm theo các rối loạn chuyển hóa và nhu cầu dinh dưỡng rất khác nhau. Người bệnh đái tháo đường có các rối loạn chuyển hóa carbonhydrate và cơ thể không thể kiểm soát được đường huyết ở mức cho phép. Người bệnh đái tháo đường được khuyến nghị sử dụng các thực phẩm (bao gồm sữa) có chỉ số đường huyết thấp và tránh các sản phẩm có nhiều đường đơn.

Ở người bệnh thận mạn tính, thận không thể thực hiện các chức năng đào thải chất độc và dịch thừa; cân bằng kiềm toan trong máu; cân bằng các chất khoáng trong cơ thể; hay chức năng tạo hồng cầu, do đó, người bệnh thận mạn phải kiểm soát lượng đạm, loại đạm, kali, phốt pho, và natri ăn vào.

Người bệnh có rối loạn mỡ máu về mặt sinh lý, thường có sự bất thường trong chuyển hóa lipid tại gan, ruột và mô mỡ, đi kèm với kháng insulin, viêm mạn tính và stress oxy hóa. Những thay đổi này làm tăng quá trình xơ vữa động mạch do các tổn thương thành mạch máu, làm hẹp lòng mạch và hình thành huyết khối. Do đó, người bệnh nên chọn loại sữa ít béo bão hòa và cholesterol, hướng tới các sản phẩm sữa bổ sung sterol/stanol thực vật.

Ngược lại, những bệnh nhân ung thư thường có các rối loạn chuyển hóa năng lượng và đạm nghiêm trọng, được gọi là hội chứng suy mòn ung thư (cancer cachexia), là tình trạng mất khối cơ nạc, mỡ và trọng lượng cơ thể không hồi phục hoàn toàn. Các yếu tố viêm mạn tính gia tăng, kích hoạt dị hóa protein, giảm tổng hợp albumin, gây teo cơ, mệt mỏi, yếu sức và ảnh hưởng lớn đến đáp ứng điều trị cũng như tiên lượng sống. Tình trạng rối loạn tiêu hóa và kém hấp thu cũng rất phổ biến, đặc biệt ở người bệnh ung thư đường tiêu hóa, do ảnh hưởng của khối u hoặc sau phẫu thuật, xạ trị. Người bệnh có thể gặp buồn nôn, tiêu chảy, rối loạn men tiêu hóa, giảm tiết enzyme, từ đó dẫn đến khó dung nạp lactose hoặc sữa động vật nguyên kem. Ngoài ra, một số loại sữa giàu chất béo bão hòa hoặc có hàm lượng đạm cao không phù hợp với chức năng gan/thận đang suy giảm nhẹ ở nhiều bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến triển. Mặc dù vậy, sữa và các chế phẩm từ sữa lại có vai trò dinh dưỡng rất quan trọng nếu được lựa chọn đúng. Chúng là nguồn cung cấp protein chất lượng cao, canxi, vitamin D và năng lượng dễ tiêu hóa – rất cần thiết cho việc ngăn ngừa và điều trị suy dinh dưỡng trong ung thư. Các loại sữa chuyên biệt dành cho bệnh nhân ung thư, đã được thiết kế để giảm lactose, bổ sung thêm arginine, omega-3, chất chống oxy hóa và có tỷ lệ đạm – béo – đường phù hợp, có thể cải thiện tình trạng dinh dưỡng, hỗ trợ miễn dịch và tăng cường chất lượng sống.

Như vậy, chúng ta thấy, ở trẻ em, phụ nữ có thai, người có bệnh mạn tính là những đối tượng có đặc điểm sinh lý và nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, do đó, sản phẩm sữa công thức dùng cho những đối tượng này cũng cần có các công thức khác nhau.

Việc duy trì một chế độ ăn hợp lý là yếu tố quan trọng. Sử dụng các thực phẩm, bao gồm sữa, một cách hợp lý, phù hợp, cân đối là yếu tố cần thiết để duy trì và tăng cường sức khỏe. Nếu sử dụng sữa không đúng công thức, người dùng có thể gia tăng nguy cơ của các loại suy dinh dưỡng thứ phát (các dạng thiếu và thừa dinh dưỡng), gia tăng tình trạng bệnh hoặc biến chứng của bệnh. Một công thức sữa dùng chung cho nhiều loại sản phẩm khác nhau có thể chỉ dựa trên một công thức trung bình, không tối ưu cho bất kỳ nhóm nào. Do đó, khi dùng cho các đối tượng người dân với sinh lý và bệnh lý khác nhau có thể gây ra các hậu quả như đã bàn luận nếu thiếu sự tư vấn, theo dõi và giám sát của cán bộ y tế.

Khuyến nghị đưa ra là luôn hỏi ý kiến cán bộ y tế, đặc biệt với những người mắc bệnh nền, trước khi chọn sản phẩm sữa phù hợp cho từng tình trạng sức khỏe. Xem và đọc kỹ nhãn sản phẩm, chỉ chọn sữa được sản xuất bởi công ty uy tín, có thông tin rõ ràng về thành phần và nhóm đối tượng sử dụng. Trong quá trình sử dụng các sản phẩm sữa công thức, cần theo dõi lâm sàng với các đối tượng bệnh lý, việc sử dụng sữa cần theo dõi cân nặng, chức năng gan thận, đường huyết, huyết áp… để điều chỉnh phù hợp và phải được tư vấn của cán bộ y tế.

TS. Hoàng Thị Đức Ngàn - Khoa Dinh dưỡng cộng đồng, Viện Dinh dưỡng