Nghiên cứu được thực hiện trên 300 cặp mẹ - trẻ sơ sinh (đẻ thường) tại khoa Sản Bệnh viện Đa khoa Hưng Yên từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2003. Bằng phương pháp nghiên cứu mô tả có phân tích, kết quả nghiên cứu cho thấy: Cân nặng và chiều dài sơ sinh trung bình đạt 3090g và 49,5cm.
Để đánh giá khẩu phần thực tế và tình trạng dinh dưỡng của nữ vị thành niên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên 1.202 nữ học sinh 11-18 tuổi của các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Duy Tiên (Hà Nam).
Một nghiên cứu bệnh - chứng được thực hiện trên 226 trường hợp trẻ sơ sinh tử vong trong năm 2004, và 227 trẻ sinh trong thời gian từ 1/1/2004 đến 31/12/2004 hiện còn sống (cùng giới, cùng độ tuổi và cùng địa bàn với trẻ tử vong) trên toàn bộ 232 xã phường tại Hà Nội cho thấy: Tỷ suất tử vong sơ sinh toàn thành phố Hà Nội năm 2004 là: 7,35%o, ngoại thành 9,9 ‰, cao hơn nội thành, 5,6‰), cao nhất tại huyện Sóc Sơn 13,9%0.
Cân nặng sơ sinh của trẻ có liên quan mật thiết với tình trạng dinh dưỡng của người mẹ trước và trong quá trình mang thai. Việc theo dõi, thu thập số liệu cân nặng sơ sinh ở nông thôn Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn khiến cho số liệu về tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân chỉ là con số ước tính, thiếu chính xác.
Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành vào cuối năm 2005 nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng trên học sinh 11-14 tuổi tại Bình Lục, Hà Nam. Cân nặng, chiều cao của 2671 học sinh (nam/ nữ = 50,6%/ 49,4%) được thu thập và so sánh với học sinh cùng tuổi, giới của Việt Nam tại 2 thời kỳ: trước 1975 và 1981-1985.
Giới thiệu tóm tắt kết quả dự án KHCN trọng điểm cấp Nhà nước KC10. DA15, 2001- 2005, đã nghiệm thu (cấp cơ sở ngày 19/03/2006, cấp Nhà nước ngày 24/04.2006). Các mục tiêu của dự án KHCN trọng điểm cấp nhà nước KC10. DA.15 (2001- 2005) đặ ra đã đạt được, căn cứ vào các kết quả sau đây...
Trong giai đoạn 1975-2000, đã quan sát thấy khuynh hướng tăng trưởng thế tục dương tính về chiều cao và cân nặng ở trẻ em bao gồm cả trẻ sơ sinh và trẻ 1 đến 15 tuổi, phản ánh tính trạng kinh tế xã hội và dinh dưỡng của Việt Nam được cải thiện rõ rệt sau 20 năm đổi mới.
Khẩu phần ăn được xác định là có liên quan chặt chẽ với các vấn đề sức khoẻ cộng đồng. Nghiên cứu tiến hành sử dụng số liệu sẵn có để phân tích so sánh các dẫn liệu về tiêu thụ thực phẩm ở nhiều giai đoạn khác nhau trong thế kỷ XX (1940-2000) để định hướng nghiên cứu và can thiệp. Từ phân tích cho thấy cho đến năm 1990 nói chung, bữa ăn cơ bản...
Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành ở trẻ em từ 6 đến 23 tháng tuổi thuộc 3 xã nông thôn tỉnh Phú Thọ vào năm 2006. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhẹ cân là 24,4%(W/A), thấp còi là 20,6% (H/A), và gày còm là 2,4%(W/H).
Nghiên cứu nhằm xác định hàm lượng của 17 axit amin khác nhau trong đậu tương và các chế phẩm bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) tại Trung tâm kiểm nghiệm của Viện Dinh dưỡng. Kết quả cho thấy, hàm lượng của các axit amin trong đậu tương dao động trong khoảng từ 33 đến 40g/100g.
Nghiên cứu được tiến hành trên 10 người bình thường khoẻ mạnh tuổi từ 20 đến 34. Những đối tượng này được uống glucose và ăn bánh trung thu có sử dụng đường isomalt cách nhau 1 tuần.
Lipoprotein tỷ trọng thấp bị oxy hóa (ox-LDL) được coi là yếu tố nguy cơ của bệnh xơ vữa động mạch và polyphenols được xem là có khả năng ức chế sự oxy hóa của LDL. Nghiên cứu này nhằm định lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của một số loại rau gia vị, và cây thuốc.
Nghiên cứu phân tích thành phần dinh dưỡng của 27 loại thức ăn truyền thống chế biến từ nguồn nguyên liệu chính là gạo nếp, gạo tẻ, bột mì, lạc, kê, vừng, đậu xanh và đường được dùng phổ biến ở Việt Nam đã được tiến hành tại Khoa thực phầm và Vệ sinh an toàn thực phẩm, Viện Dinh dưỡng từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2006.
Tập hợp và phân tích các dẫn liệu về tiêu thụ thực phẩm của người Việt Nam trong 2 thập kỷ (1985 – 2005) qua một số công trình điều tra cả nước của Viện Dinh dưỡng như cuộc điều tra toàn quốc năm 1985 từ 25 điểm trong cả nước, cuộc tổng điều tra dinh dưỡng năm 1990, cuộc tổng điều tra dinh dưỡng năm 2000...
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 30 trẻ từ 7 – 60 tháng tuổi và bà mẹ của trẻ tại 2 xã Quài Tở và Tênh Phông, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên nhằm mô tả thực trạng khẩu phần ăn của trẻ và kiến thức, thực hành về chăm sóc trẻ của các bà mẹ. Số liệu khẩu phần được thu thập bằng phương pháp hỏi ghi 24 giờ qua và kiến thức...
Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của mạng lưới dinh dưỡng tại cộng đồng và cơ sở y tế là một trong những mục tiêu quan trọng của CLQGDD giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn 2030. Nghiên cứu đánh giá năng lực mạng lưới dinh dưỡng được thực hiện bằng phương pháp mô tả cắt ngang.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu dọc tiến cứu nhằm đánh giá hiệu quả tư vấn dinh dưỡng và xây dựng chế độ ăn để ổn định đường huyết cho 160 thai phụ đái tháo đường thai kỳ sau 2 tuần. Kết quả: Nghiên cứu cho thấy hiệu quả của việc tư vấn dinh dưỡng, tiết chế chế độ ăn sau 02 tuần điều trị giúp thai phụ đạt đường huyết mục tiêu là 80%.
The author suggested several methods to improve the quality and safety in the production of fish sauce and Soya sauce, relating to their ingredients, process and techniques used.
Khoảng 2500 năm trước đây, Hypocrates đã xem thực phẩm là thuốc và thuốc cũng là thực phẩm. Tại Việt Nam, Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh và nhiều chuyên gia đầu ngành về Dinh dưỡng, Thực vật, Nông nghiệp, Y học, ẩm thực, Tiết chế và ăn uống, cũng xác định: rau quả là thành phần quan trọng trong 3 bữa ăn hàng ngày của nhân dân ta.
Vì ăn uống tuy quan trọng nhưng dễ bị tầm thường hóa, nên còn ít nghiên cứu về truyền thống ăn uống Việt Nam. Qua ca dao, tục ngữ lưu truyền trong dân gian, người Việt Nam đã hiểu rất rõ vai trò vị trí của ăn uống trong đời sống, kể cả vấn đề đạo lý. Cơ cấu bữa ăn Việt Nam gồm: cơm, muối, rau, thức ăn là cơ cấu thật hoàn chỉnh.