Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nhân trắc và tình trạng dinh dưỡng của học sinh tại một số trường trung học cơ sở tại Hà Nội.
Tạp chí dinh dưỡng năm 2022- Tập 18 số 3 + 4 năm 2022
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm một số chỉ số nhân trắc và tình trạng dinh dưỡng ở phụ nữ từ 40-65 tuổi tại Hà Nội. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 673 phụ nữ tuổi từ 40-65 sinh sống tại phường Dương Nội, Phù La quận Hà Đông và xã Chúc Sơn, Phù Nghĩa huyện Chương Mỹ.
Tạp chí dinh dưỡng năm 2022- Tập 18 số 5 + 6 năm 2022
Tạp chí dinh dưỡng năm 2022- Tập 18 số 1 năm 2022
Mục tiêu: Mô tả sự thay đổi tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi tại 3 tỉnh Miền núi phía Bắc thông qua mô hình sản xuất và tiếp thị thức ăn bổ sung tại địa phương.
Mục tiêu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng trước khi mang thai và một số đặc điểm về tiền sử sản khoa, yếu tố nguy cơ ở 173 thai phụ mắc Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) khám và điều trị nội trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2020- 2021.
Nhằm đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về VSATTP và sử dụng chất phụ gia tại Quảng Bình, một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên toàn bộ 164 chủ cơ sở chế biến-kinh doanh thực phẩm (bún, bánh, nem, chả, thịt quay-thịt nướng) tại 3 huyện, thành phố của tỉnh năm 2009 với một bảng hỏi cấu trúc thiết kế sẵn.
Nghiên cứu nhằm tìm điều kiện tối ưu để sản xuất bột cà chua bằng kế hoạch bậc hai tâm xoay và phương pháp tối ưu hóa đa mục tiêu – sử dụng phương pháp hàm mong đợi. 20 thí nghiệm thực nghiệm được tiến hành để xây dựng hàm mục tiêu mô tả sự ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin vào dịch trước sấy phun, nhiệt độ không khí sấy, tốc độ bơm nhập...
Nghiên cứu về hiệu quả của bổ sung sữa PediaPlus được tiến hành tại trường mẫu giáo xã Đồng Kỳ, huyện Yên Thế, Bắc Giang trong 4 tháng, từ tháng 1 đến cuối tháng 5 năm 2011. Tổng số 200 trẻ từ 36 đến 72 tháng tuổi ở trường mẫu giáo được chia llàm 2 nhóm can thiệp và chứng.
Nghiên cứu can thiệp có đối chứng trong thời gian 9 tháng bằng truyền thông giáo dục dinh dưỡng nhằm phòng chống thừa cân béo phì trên 700 trẻ em từ 6-14 tuổi. Nghiên cứu thực hiện ở 2 trường của quận Hoàn Kiếm và 2 trường của quận Ba Đình, Hà Nội.
Hiệu quả của tiêu thụ bột mỳ/ mỳ tôm tăng cường 5 loại vi chất được đánh giá trên đối tượng nữ công nhân bị thiếu máu. Kết quả cho thấy tiêu thụ mỳ tôm trong thời gian 6 tháng đã làm tăng có ý nghĩa (p<0.01) nồng độ Hb (tăng 6,4-11,7g/L), kẽm huyết thanh (14,2-18µg/dL); làm giảm rõ rệt tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt (giảm 60,5-65,9%)...
Nghiên cứu tiến hành với mục đích lựa chọn công thức trà cỏ sữa (Euphorbia hirta L.) có chất lượng cảm quan và hàm lượng polyphenol cao. Trà cỏ sữa được chế biến theo 4 công thức (CT) khác nhau, đóng gói 2g cỏ sữa khô/gói.
Từ 1995 đến 2004, trong khuôn khổ Kế hoạch hành động Quốc gia dinh dưỡng 1996-2000 và Chiến lược Quốc gia dinh dưỡng 2001-2010, các hoạt động can thiệp liên ngành đã được triển khai tại huyện điểm Thường Tín. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình sau 10 năm triển khai các hoạt động can thiệp phối hợp liên ngành....
Nghiên cứu sản xuất viên bổ sung sắt, kẽm, vitamin C, axit folic và axit amin cho phụ nữ có thai. Nguyên liệu được chọn để sản xuất là premix đặt tại công ty DSM, đạm đậu tương của Mỹ và Whey Protein Concentrate. Nguyên liệu sau khi xát hạt được sấy làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1: 40 độ C trong 6h và giai đoạn 2: 45 độ C trong 5h.
Điều tra thiếu vitamin A tiền lâm sàng và thiếu máu ở 8152 trẻ em < 5 tuổi, của 56 tỉnh thành, được tiến hành vào cuối năm 2008. Kết quả cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng (retinol huyết thanh < 0,7 µmol/L) là 14,2%; tỷ lệ thiếu máu (Hb<110g/L) là 29,2%, thuộc mức trung bình về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng.
Can thiệp dinh dưỡng dưới “bữa ăn thị phạm” được tổ chức luân phiên tại các hộ gia đình có con dưới 5 tuổi dân tộc Sán Chay tại Thái Nguyên trong 18 tháng (2006-2008). Kết quả cho thấy: gia đình có con dưới 5 tuổi đã chủ động góp công lao động, vật dụng và 652,9 kg thực phẩm để thực hành cho trẻ ăn bổ sung.
Hiệu quả của uống sữa “Gấu 1+ Active Protection”, giàu prebiotic và probiotic(SYNBIO) được đánh giá trên trẻ em lứa tuổi mẫu giáo (18-36 tháng tuổi). Kết quả được so sánh với một loại sữa không có probiotic và prebiotic.
Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành vào tháng 11 năm 2011 trê 80 đối tượng trẻ độ tuổi 13-18 tháng chưa cai sữa mẹ ở một phường nội thành và một xã ngoại thành Hà Nội. Mục tiêu: Mô tả khẩu phần ăn bổ sung (KPABS) của trẻ 13-18 tháng thông qua cân đong khẩu phần trong 24 giờ.
Nghiên cứu được tiến hành trên 110 sĩ quan Bộ Tư lệnh Biên phòng đang bị thừa cân béo phì (BMI>=23), có rối loạn lipid máu, tuổi từ 30-59 trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Mục tiêu: đánh giá hiệu lực của viên lycopen – vi chất dinh dưỡng trong giảm rối loạn lipid máu. Phương pháp: Thử nghiệm cộng đồng trước sau có đối chứng trong 12 tuần.
Một số mối nguy hóa học và vi sinh trong một số thực phẩm nguy cơ được lựa chọn để đánh giá dựa trên các thông tin khoa học sẵn có về đặc tính mối nguy và kết quả phân tích tại phòng thí nghiệm đã được chứng nhận VILAS số hiệu 307 thuộc khoa Thực phẩm – VSATTP, Viện Dinh dưỡng.
Tại Việt Nam, bên cạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng duy vẫn còn khá cao, tỷ lệ người bị thừa cân và béo phì cũng đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ở các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh. Để có được một cái nhìn khái quát bức tranh diễn biến về tình trạng thừa cân và béo phì của tầng lớp dân cư tại thành phố Hồ Chí Minh, qua cuộc điều tra cắt...
Polyphenol có mặt trong một số thực vật có khả năng chống oxy hóa và khả năng hỗ trợ giảm đường huyết trong bệnh đái tháo đường. Nghiên cứu tiến hành nhằm xác định hàm lượng polyphenol, khả năng triệt tiêu gốc tự do và khả năng ức chế men alpha-glucosidase của bột chiết tách từ lá vối, lá ổi, lá sen và hỗn hợp VOS.
Mục đích của nghiên cứu là so sánh các chỉ số liên quan tới dinh dưỡng như (thay đổi cân nặng, thay đổi khẩu phần, triệu chứng dạ dày – ruột, thay đổi chức năng vận động, mất lớp mỡ dưới da, phù, cổ chướng....) giữa nhóm bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng bình thường (nhóm bình thường) và nhóm bệnh nhân suy dinh dưỡng (SDD) (phân loại theo đánh giá nhân trắc).