Trước xu thế số hóa, công nghệ trí tuệ nhân tạo của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Viện Dinh dưỡng đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đầu tư triển khai đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát, tư vấn thông minh về dinh dưỡng cho người Việt Nam và một số nhóm người bệnh” mã số KC4.0-13/19-25 nhằm xây dựng hệ thống tư vấn dinh dưỡng thông minh cá thể cho người dân Việt Nam.
Mục tiêu: Chỉ số khối cơ thể (BMI) là công cụ phổ biến để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, với hai thang phân loại chính khuyến nghị toàn cầu (WHO-1998) và khuyến nghị cho người Châu Á (WPRO/IASO/IOTF-2000). Nghiên cứu này nhằm so sánh tình trạng thừa cân béo phì (TCBP) ở người bệnh đái tháo đường týp 2 tại Việt Nam theo cả hai tiêu chuẩn BMI, cung cấp dữ liệu cập nhật và khuyến nghị cải thiện phòng ngừa, quản lý bệnh.
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố liên quan đến thừa cân-béo phì (TCBP) ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Aims: The rs2681492, a single nucleotide polymorphism in the ATP2B1 gene, has been reported to be associated with cardiovascular diseases and traits including blood pressure, chronic heart failure, and hypertension. The study aimed to develop a PCR-RFLP genotyping method for rs2681492 among the Vietnamese population.
Mục tiêu: Xác định tình trạng thiếu máu, thiếu sắt và thiếu vitamin A (Vit. A), ở phụ nữ trước khi mang thai lần đầu (PNTKMTLĐ) ở Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ (CK-PT). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu điều tra cắt ngang trên 411 phụ nữ tuổi từ 18-30 chưa từng có thai sống tại CKPT.
Với sự phát triển nhanh chóng trong sản xuất thực phẩm giàu năng lượng trên toàn thế giới cùng với chế độ ăn bất cẩn, nhân loại đã và đang sống trong một môi trường có tác động tiêu cực đến sức khỏe.
Một điều tra cắt ngang được triển khai trên 241 phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 15-49 tuổi tại 4 xã tỉnh Nam Định để đánh giá thực trạng dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu sắt và thiếu kẽm.
Suy dinh dưỡng (SDD) ở những bệnh nhân phẫu thuật làm tăng tỷ lệ nhiễm trùng, biến chứng. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD) nhằm phát hiện nguy cơ SDD, từ đó có những hỗ trợ dinh dưỡng kịp thời góp phần nâng cao kết quả điều trị.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của can thiệp bổ sung canxi, vitamin D và kẽm lên sự gia tăng chiều cao, cân nặng và sự thay đổi thành phần cơ thể ở độ tuổi dậy thì.
Nghiên cứu can thiệp có đối chứng tại cộng đồng trên 144 đối tượng là phụ nữ mới kết hôn, chưa có thai huyện Cẩm Khê, Phú Thọ nhằm đánh giá hiệu quả của can thiệp bổ sung thực phẩm trước và trong khi có thai tới tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và thiếu máu của trẻ 24 tuần tuổi.
Mục tiêu: Mô tả kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ có con từ 3-5 tuổi và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 834 bà mẹ có con từ 3-5 tuổi, phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn tại 2 xã Phú Lâm và xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2015.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng thừa cân, béo phì và xác định một số yếu tố liên quan ở học sinh hai trường trung học cơ sở (THCS) tại Thành phố Thái Nguyên năm 2016.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của sản phẩm dinh dưỡng có probiotic và prebiotic (Synbiotic) đến tình trạng dinh dưỡng và vi chất của trẻ 25-36 tháng tuổi.
Bổ sung dinh dưỡng đường uống giúp hồi phục sớm, giảm biến chứng, giảm số ngày nằm viện và chi phí điều trị. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả can thiệp dinh dưỡng bằng đường uống trên bệnh nhân suy dinh dưỡng đang điều trị tại bệnh viện Nhân Dân 115.
Nhằm đánh giá diễn tiến thừa cân béo phì (TCBP) và tình trạng tăng huyết áp của lứa tuổi học đường TP Hồ Chí Minh (TPHCM), cuộc điều tra dịch tễ học qui mô lớn trên toàn thành phố được thực hiện năm 2014 trên 11072 học sinh được chọn ngẫu nhiên tại 11 trường tiểu học, 10 trường trung học cơ sở, và 9 trường trung học phổ thông.
Thiếu iốt là nguyên nhân chính gây giảm phát triển trí tuệ ở trẻ em mà có thể phòng ngừa được. Theo WHO, sử dụng muối có bổ sung iốt là biện pháp an toàn và hiệu quả để phòng ngừa các tác hại do thiếu iốt.
Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai đặc biệt quan trọng đối với cả bà mẹ lẫn thai nhi. Tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng của bà mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến con từ khi còn là bào thai đến khi trưởng thành.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của sữa có probiotic và prebiotic (Synbiotic) đến chỉ số miễn dịch và tình hình mắc bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) của trẻ 25-36 tháng tuổi.
Nghiên cứu mô tả sự thay đổi tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và thiếu máu khi có thai ở 165 phụ nữ nông thôn được thực hiện từ năm 2011-2015 tại huyện Cẩm Khê, Phú Thọ. Phương pháp: Phương pháp cân đo nhân trắc và xét nghiệm phân tích các chỉ số sinh hóa liên quan đến thiếu máu tại ba thời điểm: ban đầu (trước khi có thai), thai 16 và thai 32 tuần.
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của người dân thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) có nhiều cải thiện rõ rệt liên tục và bền vững trong 10 năm gần đây cả về tầm vóc, thể lực, các rối loạn dinh dưỡng và kiến thức thực hành về dinh dưỡng.
Với mục tiêu thúc đẩy sự hợp tác chặt chẽ hơn về dinh dưỡng trong khu vực, các nước trong Mạng lưới Dinh dưỡng Y tế công cộng Đông Nam Á (SEA-PHN) đã tiến hành biên soạn và phân tích các thông điệp chính và cơ sở khoa học của “Những lời khuyên dinh dưỡng dựa vào thực phẩm” của các nước trong khu vực. Hoạt động này nhằm mục đích chia sẻ kinh nghiệm và phương pháp tiếp cận trong việc phát triển các hướng dẫn về y tế, dinh dưỡng công cộng quan trọng đối với các Hội thành viên của mạng lưới.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi và các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ 6 – 23 tháng tại 6 xã thuộc 2 huyện của tỉnh Thanh Hóa năm 2013.
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu lớn trong những thập kỷ qua, toàn thế giới hiện vẫn gặp nhiều thách thức trong việc giải quyết vấn đề sức khỏe có liên quan đến dinh dưỡng. Có tới một phần ba dân số phải đối mặt với suy dinh dưỡng (SDD) bao gồm các thể thừa dinh dưỡng và thiếu dinh dưỡng.
Dinh dưỡng hợp lý khi mang thai đóng vai trò quan trọng trong phòng chống thiếu vi chất ở Phụ nữ có thai (PNCT). Khẩu phần ăn có giá trị sinh học thấp là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu hụt vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu hụt kẽm- một chất có nhiều trong các loại thịt đỏ, thức ăn nguồn gốc động vật, hải sản.